Học nhiếp ảnh, Hưỡng dẫn sự dụng máy ảnh, đời thường, đường phố

  • Ảnh đẹp mỗi tuần stock 1

    Để có thể chụp được 1 tâm ảnh đẹp nhiếp ảnh ngoài những kinh nghiệp còn phải biết sáng tạo bắt khoảnh khắc...

  • Ảnh đẹp mỗi tuần stock 2

    Để có thể chụp được 1 tâm ảnh đẹp nhiếp ảnh ngoài những kinh nghiệp còn phải biết sáng tạo bắt khoảnh khắc...

  • Ảnh đẹp mỗi tuần stock 3

    Để có thể chụp được 1 tâm ảnh đẹp nhiếp ảnh ngoài những kinh nghiệp còn phải biết sáng tạo bắt khoảnh khắc...

Canon EOS 70D có thể ra mắt trong tháng 7


Theo Canonrumors, EOS 70D được cho là đang trong giai đoạn kiểm tra cuối cùng và trên tay một vài thành viên của nhóm Explorer of Lights.


Nhiều khả năng indication EOS 70D sẽ ra mắt trong tháng 7/2013. Ảnh: Petapixel.

Cách đây không lâu, mẫu DSLR với nhiều tính năng cao cấp và đột phá này đã từng được đồn sẽ sớm xuất hiện vào cuối tháng 3/2013. Tuy nhiên, một số lý do khác cho rằng sở dĩ hãng đã dời lại thời điểm công bố indication EOS 70D là vì vấn đề kỹ thuật và trở ngại trong vấn đề tiếp thị. Vào ngày 31/5/2013, Canon Hà Lan sẽ tổ chức một cuộc họp báo nhằm giải thích lý do cụ thể cho sự ra mắt chậm trễ của mẫu DSLR đầy hứa hẹn này.

EOS 70D dự kiến sẽ là mẫu DSLR thay thế cho indication 60D vốn có “tuổi đời” đã gần 3 năm. Mặc dù hãng vẫn chưa tiết lộ bất kỳ chi tiết nào về đặc tả kỹ thuật của sản phẩm, strain giới công nghệ vẫn tồn tại khá nhiều đồn thổi về thông số kỹ thuật của máy. Cụ thể, EOS 70D được cho là sẽ sở hữu cảm biến APS-C độ phân giải 18 megapixel tựa như indication EOS 100D; grain bộ cảm biến hoàn toàn mới độ phân giải lên đến 21 megapixel. 

Máy cũng sẽ được trang bị hệ thống lấy nét tự động 19 điểm và tất cả đều hỗ trợ cross-type cho phép lấy nét chính xác và dễ dàng hơn. Nhiều khả năng EOS 70D cũng sẽ được trang bị bộ xử lý hình ảnh DIGIC 6, màn hình cảm ứng 3,2”, một khe cắm thẻ nhớ định dạng SD, dải ISO từ 100 đến 25.600 và phần khung sử dụng hợp kim magie hỗ trợ tính năng weather-sealed. Dự kiến EOS 70D sẽ có giá thành khoảng 1.199 USD cho thân máy.

Canon trình làng siêu ống kính 200-400 mm f/4L giá 11.800 USD



Mẫu ống kính tele zoom mới của Canon tích hợp bộ nhân Extender 1.4x cho tiêu cự tối đa tới 560 mm, khả năng chống rung IS và mô-tơ lấy nét siêu thanh USM. 


Canon hôm nay chính thức giới thiệu mẫu ống kính tele zoom tích hợp bộ nhân tiêu cự cao cấp nhất của mình là EF 200-400mm f/4L IS USM Extender 1.4x. Sản phẩm lần đầu tiên được hãng hé lộ vào tháng 2/2011 nhưng qua nhiều công đoạn thử nghiệm suốt hơn hai năm qua. Điểm đặc biệt nhất chính là cần gạt phía cuối ống kính cho phép chuyển đổi thành tiêu cự 280-560 mm f/5.6 bằng chỉ một thao tác. 
EF 200-400mm f/4L IS USM Extender 1.4x được thiết kế dành riêng cho các nhiếp ảnh gia thể thao và động vật hoang dã.

Sản phẩm tích hợp nhiều tính năng cap cấp như Power Focus cho quay video, tính năng chống rung IS 'mode 3' cho phép chỉ chống rung tại các điểm đo sáng giúp tối ưu cho các pha chụp lia.

Sản phẩm có kết cấu chống chọi thời tiết khắc nghiệt, chống rung 4 bước và khoảng cách lấy nét gần nhất là 2 mét. Thiết bị có kết cấu quang học với 25 thấu kính chia làm 20 nhóm, trong đó có thấu kính Fluorite, thấu kính có độ sán xạ thấp và các lớp phủ Sub-Wavelength Structure Coating và Super Spectra Coating. 
EF 200-400mm f/4L IS USM Extender 1.4x sẽ được bán từ ngày 29/5 tới đây với giá bán đề xuất 11.799 USD tại thị trường Mỹ và 11.999 bảng Anh hoặc 11.800 Euro tại thị trường Anh và châu Âu. 


Những điều chưa biết về camera trên smartphone


Chụp ảnh là một thói quen phổ biến. Không phải ai cũng có điều kiện sắm máy ảnh DSLR và không phải lúc nào chúng ta cũng có thể mang theo mình một chiếc máy ảnh, do đó điện thoại di động đang góp phần quan trọng giúp người dùng lưu giữ lại những khoảnh khắc đặc biệt.

Các biên tập viên của trang công nghệ uy tín AnandTech đã có một bài phân tích rất chi tiết về camera của máy ảnh, giúp cho bạn đọc hiểu rõ hơn về chức năng quan trọng này của smartphone.

1. Một số thuật ngữ quang học
Bất cứ cuộc thảo luận nào về máy ảnh cũng cần đề cập tới 3 con số quan trọng. Trước hết là chỉ số khúc xạ (index of refraction, thường được biết đến với khái niệm "chiết suất"). Chỉ số khúc xạ cho biết tốc độ của ánh sáng bị chậm lại bao nhiêu lần khi đi qua một hệ quang học so với khi đi qua chân không. Thứ 2 là bước sóng (wavelength): thực chất nhắc tới bước sóng là nhắc tới màu sắc và mắt người có thể nhận biết được những màu sắc có bước sóng 400 – 700nm (nano mét). Thứ 3 là cường số ánh sáng (optical power): khả năng hội tụ hoặc phân kỳ một tia sáng tới của hệ quang học.  
Một thuật ngữ nữa cần chú ý nữa là khẩu độ. Khẩu độ được định nghĩa là tỉ lệ giữa độ dài tiêu cự và đường kính đồng tử. Khẩu độ cho biết khả năng hấp thụ ánh sáng (hình ảnh) của hệ thống quang học – khẩu độ càng lớn thì lượng ánh sáng đi vào hệ quang học càng nhiều.
Khẩu độ được tính dựa trên các giá số (F-number). Các giá số 1, 1.4, 2 v...v... tương đương với các khẩu độ  f/1, f/1.4, f/2 v...v... (xem hình dưới). Giá số càng lớn thì khẩu độ càng nhỏ.

camera trên smartphone, smartphone, camera smartphone
Ngoài ra, chúng ta cũng cần nhắc tới định dạng cảm biến hình ảnh, thường được đo với đơn vị 1/x inch. Cảm biến 1/2" sẽ lớn hơn cảm biến 1/7".
camera trên smartphone, smartphone, camera smartphone
Camera hoạt động khá giống với mắt người
Do chúng ta đang nói về các hệ camera, chúng ta đang nói về một hệ phản chiếu lại một hình ảnh từ xa lên một bề mặt. Các hệ camera khá giống với mắt người, thay vì phản chiếu hình ảnh lên võng mạc, chúng phản chiếu hình ảnh lên các chip cảm biến.
2. Các bộ phận của hệ thống camera
Như bạn đọc có thể thấy trong hình bên dưới, chụp ảnh là một quá trình đi qua nhiều bộ phận khác nhau của máy ảnh (xem hình dưới). Khi đi từ bộ phận này sang bộ phận khác, chất lượng hình ảnh có thể bị thay đổi: ví dụ chip xử lý hình ảnh ISP có thể làm hỏng bức ảnh cho dù ống kính cho ra các tín hiệu tốt. Ngoài ra, giữa chip xử lý hình ảnh và một số bộ phận khác có thể có vòng lặp tín hiệu.
camera trên smartphone, smartphone, camera smartphone
Từ trái qua phải: Cảnh vật, Ống kính, Cảm biến bán dẫn ô xít kim loại (CMOS), Vi xử lý tín hiệu hình ảnh (ISP), Giao diện/Hệ điều hành/File ảnh được lưu lại trên máy
Quay phim cũng là một quá trình tương tự, tuy vậy bộ mã hóa tín hiệu (Encoder) được đặt vào hệ thống để tạo ra file video cuối cùng được lưu trên máy. Ngoài ra, cảm biến CMOS cũng có thể không làm việc trên kích cỡ đầy đủ của mình và các tín hiệu phát ra từ ISP có thể được giảm bớt.
camera trên smartphone, smartphone, camera smartphone
Từ trái qua phải: Cảnh vật, Ống kính, Cảm biến bán dẫn ô xít kim loại (CMOS), Vi xử lý tín hiệu hình ảnh (ISP), , Bộ mã hóa tín hiệu, File video MP4 được lưu lại trên máy
3. Giới hạn của camera trên smartphone
Các hạn chế của camera trên smartphone là khá đặc biệt – và chúng ta cần phải nhấn mạnh vào khía cạnh này để hiểu được những khó khăn mà các nhà sản xuất gặp phải.
camera trên smartphone, smartphone, camera smartphone
Thứ nhất là kích cỡ của mô-đul camera trên máy ảnh. Tất cả mọi người đều muốn một chiếc điện thoại mỏng và không bị lồi lên ở phần camera, và do đó mô-đul camera sẽ là phần dày nhất của smartphone. Tuy vậy, các giới hạn về mặt vật lý dành cho camera vẫn bị giữ nguyên.
Thứ hai là vấn đề về giá cả. Do camera chỉ là một phần của smartphone, các nhà sản xuất phải cố giảm giá thành của mô-đul camera xuống còn khoảng 5 – 15 USD.
Thứ ba là vấn đề vật liệu: gần như tất cả các hệ camera trên smartphone (trừ một số mẫu của Nokia) đều được làm bằng nhựa. Số lượng nhựa quang học là không nhiều, và các nhà sản xuất gần như luôn luôn lựa chọn kết hợp PMMA (độ phân tán thấp) và Polystyrene (độ phân tán cao) để tránh hiện tượng tiêu sắc (chromatic abbrration – hiện tượng ống kính không thể tập trung tất cả màu vào một điểm hội tụ duy nhất). Ngoài ra, các camera trên smartphone luôn luôn có tiêu cự cố định, khẩu độ cố định (thường khá nhỏ), không có cửa trập, đôi khi sử dụng một màn lọc ND (mật độ trung tính). Để giữ được kích cỡ nhỏ cho mô-đul camera, tiêu cự thường khá nhỏ, tạo ra hình ảnh rộng và độ nhiễu lớn.
Ngoài ra, với tính chất tiện dụng của mình, camera trên smartphone cũng thường có điều kiện hoạt động không được lý tưởng cho lắm. Đây là một điểm yếu cho camera trên smartphone – một hệ thống phải chụp lại rất nhiều chi tiết vào các điểm ảnh (pixel) rất nhỏ bé.
4. Ống kính
Trước hết chúng ta sẽ đi vào tìm hiểu bộ phận đầu tiên của camera trong chuỗi nhận hình ảnh: ống kính (lens). Nhìn vào hình dưới bạn có thể thấy một hệ thống ống kính được sản xuất bởi Foxconn, với tầm ngắm khá lớn (khẩu độ F/2.0) và 4 kính cầu: kính cầu số 1 và 3 có cường số ánh sáng dương trong khi kính cầu số 2 và 4 có cường số ánh sáng âm.
camera trên smartphone, smartphone, camera smartphone
Đi kèm với bằng sáng chế dành cho ống kính này là các thông số kỹ thuật (xem hình dưới, từ trái qua phải): độ cong của các bề mặt (radius of curvature), khoảng cách giữa các bề mặt (separation), khả năng đọc tín hiệu (index at d), chỉ số phân tán (Abbe#) và hằng số hình nón (conic constant). Ngoài ra giữa kính cầu số 1 và kính cầu số 2 cũng có sự chênh lệch đối với mức độ phân tán, kính cầu số 1 có cường số ánh sáng dương và kính cầu số 2 có cường số ánh sáng âm. Điều này là nhằm giảm hiện tượng tiêu sắc.
camera trên smartphone, smartphone, camera smartphone
Chúng ta có thể nhìn vào một sản phẩm cụ thể với 5 kính cầu của LG. Đây là hệ thống 5P được sử dụng trong Optimus G.
camera trên smartphone, smartphone, camera smartphone
5. Mô-đul Camera và các xu hướng cảm biến CMOS
Sau khi đi qua ống kính, các tín hiệu hình ảnh sẽ đi tới đâu?
Câu trả lời là một "mô-đul" (module camera). Một mô-đul bao gồm có các ống kính, bộ lọc IR (phản chiếu hoặc chặn các tia hồng ngoại trung), mô tơ để lấy nét và cuối cùng là cảm biến ô xít kim loại (CMOS) và cáp đầu ra. Các hệ camera cao cấp hơn sẽ có hệ thống ổn định hình ảnh quang học (OIS) với mô tơ phức tạp hơn và con quay điện cơ siêu nhỏ (MEMS).
camera trên smartphone, smartphone, camera smartphone
Ống kính và các thành phần trong mô-đul camera
Sau khi đi qua mô-đul này, các tín hiệu sẽ đi vào cảm biến hình ảnh CMOS. Các chip CMOS cho smartphone thường có kích cỡ 1/4 ~ 1/3 inch. Dĩ nhiên là cũng có những ngoại lệ, nhưng kích cỡ nói trên là phổ biến nhất. Các cảm biến cho camera mặt trước dĩ nhiên là sẽ nhỏ hơn. Các cảm biến CMOS trong phần lớn các mẫu smartphone thường có kích cỡ cố định, do cảm biến lớn hơn sẽ tạo ra hệ thống quang học dày hơn. Do đó, xu hướng gia tăng số lượng megapixel của các nhà sản xuất thực chất là để tạo ra các pixel nhỏ hơn.
camera trên smartphone, smartphone, camera smartphone
Xu hướng giảm kích cỡ pixel là rất dễ để có thể nhận biết. Thế hệ smartphone hiện thời chụp ra những bức ảnh có các điểm ảnh kích cỡ 1,1 micron. Gần như tất cả các mẫu smartphone 13MP, ví dụ như Optimus G, đều đang sử dụng pixel 1,1 micron, trong khi các máy khác như Optimus G (phiên bản mỏng) hoặc Nexus 4 sử dụng pixel 1,1 micron với máy ảnh độ phân giải 8MP để có thể trở nên mỏng hơn. Các thế hệ smartphone 8MP trước sử dụng pixel 1,4 micron; còn ở độ phân giải 5MP chúng ta đang nhắc tới các pixel có độ lớn 1,65 hoặc 1,75 micron. Các micron này rõ ràng là có kích cỡ rất nhỏ bé, nên nhớ rằng một ánh sáng đỏ có bước sóng 700 nm, và 1 pixel có kích thước 1,4 micron chỉ tương đương 2 bước sóng. Do việc đưa kích cỡ xuống thấp hơn 1 bước sóng là không hợp lý, các nhà sản xuất khó có thể giảm kích cỡ các pixel xuống thấp hơn nữa.
camera trên smartphone, smartphone, camera smartphone
Chúng ta cũng nhắc tới việc chiếu sáng từ phía sau (BSI) và chiếu sáng từ phía trước (FSI). Chiếu sáng từ phía sau chiếu ảnh trực tiếp qua silicon lên vùng hoạt động của điểm ảnh, trong khi chiếu sáng từ phía trước đi qua nhiều lớp kim loại tạo ra phản chiếu lên một vùng nhỏ hơn của điểm ảnh, do đó làm mất một lượng ánh sáng (hình ảnh) nhất định. BSI xuất hiện nhằm đáp ứng các mục tiêu ứng dụng và khoa học trong việc đạt được mức độ hiệu suất lượng tử (chuyển từ photon sang electron) cao nhất, và công nghệ này được áp dụng trong smartphone không chỉ nhằm tăng độ nhạy của các pixel.
Với FSI, kích cỡ rất nhỏ (1,4 x 1,4 micron) của các pixel sẽ làm hiện tượng mờ lượng tử (quantum blur) xuất hiện: khi photon được chuyển thành electron trên một pixel, photon này có thể không chuyển đổi một cách chính xác lên vùng hoạt động của pixel. Ngoài ra, khẩu độ có thể đạt được của các camera này sẽ không tương xứng với chiếc điện thoại.
camera trên smartphone, smartphone, camera smartphone
6. Chip xử lý tín hiệu hình ảnh (ISP)
camera trên smartphone, smartphone, camera smartphone
Các pixel có độ nhạy tương ứng với nhiều dải bước sóng ánh sáng, do đó về bản chất chúng ta không thể biết được một pixel sẽ mang màu gì. Do đó để tạo ra một bức ảnh màu chúng ta cần có một màng lọc, trước hết là lọc ra mẫu các dải màu, sau đó lọc màu của các pixel ở cạnh nhau. Cảm biến CMOS 8MP sẽ không nhận biết các màu đỏ, xanh lá cây và xanh da trời bên trong từng pixel; CMOS sẽ đoán ra màu của từng pixel và ISP cũng sẽ đoán ra màu này dựa vào các pixel ở xung quanh. Đây là kỹ thuật gộp màu "demosaicing" và đó cũng là công việc chính của ISP.
Ngoài ra, ISP cũng đảm nhiệm các công việc phụ trợ khác như kiểm soát tự động lấy nét, kiểm soát độ phơi sáng và kiểm soát cân bằng ánh sáng trắng. Ngoài ra, gần đây ISP còn làm thêm các nhiệm vụ sửa mờ hình hoặc sửa bóng màu do lỗi ống kính, bên cạnh các nhiệm vụ như kết hợp HDR, giảm nhiễu, phát hiện khuôn mặt hoặc các vật thể khác. Nói tóm lại, các loại ISP khác nhau có thể làm các nhiệm vụ khác nhau, nhưng đây luôn là bộ phận kiểm soát việc chuyển các dữ liệu thu được từ CMOS thành một ma trận hình ảnh có thể xử lý được.
7. Giao diện chức năng camera trên smartphone
camera trên smartphone, smartphone, camera smartphone
Đây là một bài toán khó cho các nhà sản xuất. Hiện tại có 2 xu hướng tồn tại đối với các nhà sản xuất: để phần mềm tự động làm mọi thứ (Apple) hoặc đưa ra gần như là tất cả các lựa chọn mà người dùng có thể làm được (Samsung). Các nhà sản xuất khác như HTC lựa chọn hướng đi khác là cho phép người dùng có thể điều chỉnh một số thông số, và tạo ra các thông số mặc định cho người dùng thông thường.
Các phần mềm chụp ảnh trên iPhone 5 và Nexus 4 tạo ra các khung preview (xem trước) với tỉ lệ không đúng với tỉ lệ của ảnh được tạo ra. Điều này khiến cho bố cục ảnh có thể không chuẩn xác, và việc nó xuất hiện trên các sản phẩm lớn là một điểm đáng chê trách. Ngoài ra, tốc độ khung hình và độ phân giải của phần preview có thể là vấn đề đối với một vài nhà sản xuất. Thậm chí, một số phần mềm chụp ảnh còn có giao diện không ổn định.

Một số nhà sản xuất đưa ra giao diện camera gần như không tạo ra được một trải nghiệm chụp ảnh nào cho người dùng. Khi smartphone tiến triển từ việc là một chiếc camera "tiện thì dùng" trở thành chiếc camera chính cho người dùng, việc đưa ra các lựa chọn tùy chỉnh mạnh mẽ là rất cần thiết nếu ISP và các chức năng khác không hoạt động như mong muốn. Có thể nói, cho tới giờ vẫn chưa có nhà sản xuất nào tạo ra được một giải pháp phù hợp.
camera trên smartphone, smartphone, camera smartphone
Ngoài ra chúng ta cũng cần nói tới bộ mã hóa của video. Chức năng quay video là gần như tương tự với chức năng chụp hình, cho dù ISP thường sẽ cắt ảnh chỉ để lại phần trung tâm, dựa theo khả năng của cảm biến. Bộ mã hóa sẽ lấy các bức ảnh này và nén chúng lại thành một định dạng với bitrate tùy thuộc vào nhà sản xuất – thông thường là H.264. Không phải bộ mã hóa nào nào cũng giống nhau, và trong khi nhiều nhà sản xuất sử dụng các bộ mã hóa có sẵn trên thị trường, nhiều nhà sản xuất tự phát triển ra bộ mã hóa cho riêng mình. Phần lớn các nhà sản xuất đều chọn giảm khả năng của bộ mã hóa để tiết kiệm dung lượng. Thế hệ điện thoại mới nhất sử dụng bitrate từ 15 ~ 20 Mbps H.264 cho các video 1080p tốc độ 30 khung hình mỗi giây (fps).
8. Đánh giá chất lượng hình ảnh
Trước hết phải nhắc tới độ nét của ảnh – chức năng chuyển đổi module (MTF). Nói một cách đơn giản MTF cho chúng ta thấy trong một dải sóng tại một tần số nhất định chúng ta sẽ thấy độ tương phản là bao nhiêu. MTF cũng cho biết tần số cao nhất của một hệ thống, từ đó có thể biết được độ phân giải của ảnh. Ngoài ra, chúng ta cũng cần biết tới quang sai.
Không có hệ camera nào là hoàn hảo, và các hệ thống tốt đạt được sự cân bằng giữa các quang sai. Vị trí rìa của ảnh là phần khó nhất, nơi có nhiều quang sai hơn so với phần giữa của ảnh.
Trong khi các quang sai trước đây là đơn sắc, cũng có những quang sai xảy ra với nhiều màu sắc (bước sóng). Các quang sai trục có thể được khắc phục bằng các ống kính lưỡng cực. Các quang sai ngang tương ứng với các viền màu. Trong phần lớn các hệ máy thương mại viền màu là sản phẩm của ISP.
Vậy chúng ta cần để ý tới những quang sai phổ biến nào? Với các camera dùng ống kính góc rộng, hiện tượng méo hình là rất phổ biến. Viền màu cũng hay xảy ra với các khung cảnh có nhiều bóng. Ảnh cũng có thể bị mờ, và hiện tượng mờ màu cũng có thể được nhận biết từ các biểu đồ, nhưng tốt nhất là từ các khung hình mẫu.
Trước hết là hiện tượng nhiễu hình, như bức ảnh bàn phím sau đây:
camera trên smartphone, smartphone, camera smartphone
Ở bức hình sau, các bạn có thể thấynhững quầng sáng xung quanh những vị trí có độ tương phản lớn. Điều này xảy ra khi các nhà sản xuất cố gắngtăng độ tương phản trở lại, sau khi độ tương phản bị hạ xuống trong quá trình xử lý chống nhiễu. Bạn cũng có thể thấy những chi tiết như bị gợn sóng ở góc dưới, bên trái ảnh.
camera trên smartphone, smartphone, camera smartphone
Ở bức ảnh cây lá này, các bạn có thể thấy phần trung tâm rất sắc nét nhưng phần xung quanh lại rất mờ.
camera trên smartphone, smartphone, camera smartphone
Bức ảnh tiếp theo đến từ một máy ảnh rất nổi tiếng có ánh sáng tím, xảy ra khi một nguồn sáng bên ngoài khung hình lọt vào ống kính. Việc các ánh sáng không thuộc vào khung hình lọt vào ảnh là một vấn đề lớn đối với các nhà sản xuất – rất nhiều các nhãn hiệu lớn gặp phải vấn đề này. Giải pháp là ống che cho ống kính (hood), nhưng chẳng ai muốn có một ống che thò ra khỏi điện thoại mình.
camera trên smartphone, smartphone, camera smartphone
Tiếp đến chúng ta sẽ so sánh 2 thế hệ liên tiếp nhau của một dòng sản phẩm nổi tiếng. Bức hình bên trái có phần xanh lá cây rất nổi bật ở giữa, và một vòng tròn đỏ ở xung quanh. Đây là ví dụ điển hình về việc các chip xử lý hình ảnh không thể sửa được hiện tượng mờ bóng màu. Tuy vậy, ở bức hình bên phải, hiện tượng này đã được khắc phục. Hiện tượng mờ bóng màu là rất phổ biến khi chụp các vật thể có bề mặt đơn sắc, ví dụ như bìa sách hoặc bảng trắng.
camera trên smartphone, smartphone, camera smartphone
Chúng ta cũng cần để ý tới các quang sai khác, ví dụ như việc chống nhiễu quá mức, cân bằng trắng tự động kém, sai nét v...v...
9. Các xu hướng của camera smartphone
Các biên tập viên tại AnandTech đã nghiên cứu 4000 bức ảnh chụp từ điện thoại để nhìn ra xu hướng của camera trên smartphone.
Trước hết, dựa vào biểu đồ sau đây, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy cuộc đua megapixel đang tạo ra sức ép rất lớn tới không gian lưu trữ của người dùng: mỗi bức ảnh 13MP "ăn" tới hơn 5MB.
camera trên smartphone, smartphone, camera smartphone
Khi được ghép lại, chúng ta thấy phần lớn các bức ảnh có kích cỡ vài KB tới 6MB. Các bức ảnh paranoma hoặc ảnh cỡ lớn khác nằm rải rác ở các khoảng 16MB hoặc hơn.
camera trên smartphone, smartphone, camera smartphone
Cuối cùng, không thể phủ nhận rằng camera trên smartphone đang thay thế dần cho các máy ảnh thông thường. Sự thật là một vài nhà sản xuất đã chuyển một số công nghệ ưu việt từ bộ phận máy ảnh của mình sang bộ phận smartphone. Quan trọng nhất, hiệu năng xử lý hình ảnh của smartphone cũng đang thay đổi qua từng thế hệ - hãy đón chờ những tín hiệu đáng mừng trong thời gian tới.

Canon EOS 700D: cấu hình tương tự 650D, đi kèm lens 18-55mm STM mới, giá từ 749$



Bên cạnh chiếc 100D, hôm nay Canon cũng đã ra mắt DSLR EOS 700D để tiếp nối cho chiếc650D. Cấu hình của EOS 700D tương tự như người tiền nhiệm, bao gồm cảm biến APS-C Hybrid CMOS 18 megapixel hỗ trợ tính năng lấy nét tương phản bên cạnh lấy nét pha, bộ xử lí DIGIC 5, hệ thống lấy nét với 9 điểm chữ thập, tính năng quay phim Full-HD. Điểm khác biệt của 700D so với 650D đó là máy đi kèm theo ống kit EF-S 18-55mm f/3.5-5.6 IS STM. Lens này sử dụng mô-tơ bước (Stepper Motor) giống với ống 18-135mm STM và pancake 40mm STM, do đó mang lại khả năng lấy nét nhanh và êm ái, đặc biệt là khi kết hợp với hệ thống lấy nét lai của EOS 700D.

Canon cho biết thêm rằng phần báng cầm tay bọc cao su và bánh xe chọn chế độ chụp trên EOS 700D đã được cải tiến để người dùng cảm thấy tiện và thoải mái hơn. Bánh xe này có thể xoay 360 độ, giúp người dùng nhanh chóng truy cập chế độ chụp đêm, chụp HDR và những chế độ cảnh khác mà không phải vất vả đào sâu vào nhiều menu như 650D.

Khi chụp ở chế độ Live View, người dùng có thể xem trước một trong 7 bộ lọc hiệu ứng theo thời gian thực. Movie Servo AF là một chế độ đã từng có mặt trên EOS 650D và bây giờ nó tiếp tục xuất hiện trên 700D. Chế độ này sử dụng khả năng lấy nét lai để lấy nét liên tục khi quay phim, tuy nhiên nó chỉ có thể dùng với các ống kính STM mà thôi.

Theo dự kiến, EOS 700D sẽ được bán ra trong tháng sau với giá 749,99$ cho thân máy; 899,99$ đi kèm ống EF-S 18-55mm STM; và 1099,99$ nếu đi kèm ống EF-S 18-135mm STM. Lens EF-S18-55mm f/3.5-5.6 IS STM cũng sẽ lên kệ với cùng thời điểm như trên và giá bán là 249,99$.

Cấu hình của Canon EOS 700D:
  • Cảm biến: 18 megapixel APS-C Hybrid CMOS
  • Bộ xử lí hình ảnh: DIGIC 5, chụp được ảnh RAW 14 bit
  • ISO: 100 đến 12.800, mở rộng đến 25.600
  • Chụp ảnh liên tục: 5 khung hình/giây
  • Màn hình: LCD cảm ứng điện dung 3" độ phân giải 1.040.000 pixel, lật xoay
  • Viewfinder: quang học, có độ bao phủ 95%
  • Hệ thống lấy nét: 9 điểm, toàn bộ là điểm cross type
  • Có khả năng lấy nét theo pha và theo độ tương phản
  • Quay phim Full-HD, tốc độ 24/25/30 fps, micro stereo, lấy nét liên tục khi quay phim (Movie Servo AF)
  • Hỗ trợ 7 bộ lọc hiệu ứng (Creative Filters: sơn đậm, màu nước, ảnh trắng đen, soft focus, camera đồ chơi, hiệu ứng mắt cá, hiệu ứng thu nhỏ), có thể xem những bộ lọc này theo thời gian thực trong chế độ Live View mà không phải chụp ngay
  • Đi kèm ống kit EF-S 18-55mm f/3.5- 5.6 IS STM
  • Kích thước: 133 x 100 x 79 mm
  • Trọng lượng: 580g
Cấu hình ống kính EF-S 18-55mm STM:
  • Chuẩn cảm biến tương thích: APS-C
  • Tiêu cự: 18-55mm (góc nhìn quy đổi tương đương máy phim 35mm)
  • Hỗ trợ ổn định hình ảnh quang học 4-stop
  • Ngàm ống: Canon EF-S
  • Khẩu độ tối đa: f/3.5 - 5.6
  • Số lá khẩu: 7
  • Cấu trúc: 13 thành phần xếp thành 11 nhóm
  • Khoảng lấy nét gần nhất: 25cm
  • Sử dụng mô-tơ bước, thân và ngàm gắn làm bằng nhựa
  • Đường kính filter: 58mm
 / 8

Nikon chính thức ra mắt ống kính 1 Nikkor 32mm f/1.2, có lớp phủ Nano và mô-tơ SWM, giá 900$





Hồi tháng 1 vừa qua Nikon cho biết hãng đang phát triển ống kính 1 Nikkor 32mm f/1.2 dành cho các máy 1-Series. Sau vài lần lộ diện, đến ngày hôm nay sản phẩm này cuối cùng cũng đã được chính thức giới thiệu ra thị trường. Theo đó, ống 32mm f/1.2 sẽ mang lại góc nhìn tương đương tiêu cự 86mm khi quy đổi máy phim và đây là lens 1 Nikkor đầu tiên có lớp tráng Nano Crystal, tương tự như các lens cao cấp dùng cho hệ máy DSLR của Nikon. Lớp này giúp giảm hiện tượng quang sai và chói, lóa khi chụp hướng về nguồn sáng mạnh. Những ống Nano cũng nổi tiếng là sở hữu chất lượng quang học rất tốt nên chúng ta có thể kì vọng điều tương tự sẽ diễn ra trên 1 Nikkor 32mm f/1.2.

Không dừng lại ở đó, 32mm f/1.2 còn là ống đầu tiên trong gia đình 1 Nikkor được trang bị mô tơ Silent Wave (SWM) hứa hẹn mang lại khả năng lấy nét nhanh, chính xác và độ ồn rất thấp. Nhờ có hệ thống Close-Range Correction (CRC, sử dụng thiết kế floating element với các cụm thấu kính di chuyển độc lập khi focus) nên lens này còn có khả năng lấy nét tốt ở khoảng cách gần khi chụp close-up. Chế độ M/A thì cho phép bạn bỏ qua chế độ auto-focus để chuyển sang lấy nét tay một cách nhánh chóng mà không phải chỉnh menu lằng nhằng.

Với sự xuất hiện của 32mm f/1.2, bộ sưu tập ống kính dành cho các máy 1-Series hiện đã tăng lên 9 ống. Lens 32mm f/1.2 sẽ được bán ra trong tháng sau với giá 899,95$, tùy chọn màu bạc hoặc đen.

Cấu hình cơ bản của ống kính 1 Nikkor 32mm f/1.2:

  • Tiêu cự: 32mm (quy đổi tương đương máy phim: 86mm)
  • Khẩu độ: f/1.2 - f/16
  • Dùng với cảm biến crop (CX)
  • Góc nhìn tối đa 26 độ
  • Cấu trúc: 9 thấu kính xếp thành 7 nhóm
  • Có lớp phủ Nano Crystal, mô-tơ Silent Wave Motor và hệ thống quang học Close-Range Correction

Nikon-1-V2-camdera-with-1-Nikkor-32mm-f12-lens

Những ống kính hay nhất


Trong số 10 ống kính được tạp chí nhiếp ảnh American Photo tiến hành bình chọn, sản phẩm của hãng Leica đã xếp đầu bảng và được coi là ống kính máy ảnh của năm 2007.

Trong số 10 ống kính được tạp chí nhiếp ảnh American Photo tiến hành bình chọn, sản phẩm của hãng Leica đã xếp đầu bảng và được coi là ống kính máy ảnh của năm 2007.
Như thường lệ, hàng năm tạp chí nhiếp ảnh American Photo đều tiến hành bình chọn "đồ nghề" cho giới nhiếp ảnh, từ máy đến ống kính đến các phụ kiện.

1. Ống kính của năm: Panasonic Leica D Vario-Elmar 14-150mm f/3.5-4.5 ASPH
Những ống kính hay nhất
Ống kính mới Leica D Vario-Elmar 14-150mm f/3.5-4.5 ASPH, tích hợp hệ thống chống rung Mega O.I.S., 4 thấu kính aspherics và một thấu kính ED. Sản phẩm này đã trở thành ống kính Leica D đầu tiên tích hợp hệ thống lấy nét siêu thanh XSM (Extra Silent Motor) giúp cho hệ thống hoạt động êm, cho dù trên thân máy cấp trung bình Panasonic Lumix DMC-L1 hay thân cao cấp Leica Digilux 3.

2. Bán chạy nhất: Nikon 55-200mm f/4-5.6G IF ED AF-S DX VR Zoom-Nikkor
Những ống kính hay nhất
Ống kính mới nâng cấp này của Nikon rất thích hợp cho các máy số D-SLR mới ra lò của hãng, cộng thêm một số tính năng mà các đời trước còn thiếu như Hệ thống chống rung VR. Mặc dù không phải là một sản phẩm dành cho dân chuyên nghiệp nhưng nó cũng được trang bị thấu kính ED giúp cải thiện chất lượng hình ảnh, nhất là ở độ mở tối đa. Với toàn thân làm bằng nhựa, sản phẩm có một ưu điểm là giá rẻ và nhẹ, giúp cho người dùng có cơ hội mua nhiều ống kính hơn. Giá tham khảo khoảng 250 USD.

3. Canon EF 70-200mm f/4L IS USM

Thỏa lòng mong đợi của những "fan" Canon, ống kính nâng cấp của hãng nhỏ và nhẹ hơn người anh em 70-200mm f/2.8. Do vậy, bạn dễ cầm trên tay và rất tiện dụng cho việc mang vác.
Các bài liên quan
Không chỉ vậy, độ mở của ống kính rất lớn (f/4) và được tích hợp hệ thống chống rung Image Stabilizer (IS). Đây cũng là ống kính EF đầu tiên của Canon cho phép mức ổn định khi có chống rung lên tới 4 khẩu độ thay vì 3 như trước đây.
Có thể nói đây là một trong những ống kính sắc nét nhất trong các loại ống kính, dù giá vẫn còn hơi đắt, vào khoảng 1.060 USD.


4. Bán chạy nhất: Tamron AF 18-250mm f/3.5-6.3 Di II LD ASPH (IF) Macro
Với zoom 14x, phiên bản Di II rất tiện dụng cho các dòng máy D-SLR bình dân, như Nikon D40. Có trường tiêu cự lên đến 28 - 390 mm (35 mm), sản phẩm này đã vượt lên gần 100 mm so với các ống kính máy cơ thông thường 28 - 300 mm, đáp ứng được hầu hết nhu cầu thông thường của người cầm máy.
Mặc dù tiêu cự lớn hơn nhưng phiên bản này có cùng kích cỡ và độ dài như Di 18 - 200 mm. Giá hiện tại vào khoảng 500 USD.

5. Sony Zeiss 16-80mm f/3.5-4.5 Vario-Sonnar T* DT
Hợp tác với Zeiss để cho ra lò ống kính phục vụ tham vọng chiếm lĩnh một phần thị trường D-SLR của mình, Sony Zeiss 16 - 80 mm là ống kính zoom duy nhất trong 3 "phụ kiện" phục vụ cho Alpha 100 D-SLR (hai ống kia là 85mm f/1.4 and a 135mm f/1.8).
Nó có tiêu cự 24 - 120 mm (máy cơ 35 mm), góc rộng thêm 4 mm (các ống góc rộng khác thường ở mức 28 mm), giúp cho việc chụp ảnh nội thất, kiến trúc tốt hơn. Tuy nhiên do ống kính nhỏ và nhẹ nên độ mở chưa được rộng, chỉ ở mức f/3.5-4.5. Giá hiện tại khoảng 700 USD.

6. Tokina 10-17mm f/3.5-4.5 AF DX Fisheye
Vốn là ống kính fish-eye nhưng loại mới này của Tokina có khả năng zoom giúp bạn tùy ý điều chỉnh độ cong rìa ảnh chứ không như các fish-eye cố định khác.
Khi lắp vào máy D-SLR, tiêu cự mặc dù nhân lên thành 15 - 24 mm nhưng cũng đủ cho máy chụp cảnh với góc nhìn 1.800 ở góc rộng nhất và 1.000 cho góc xa nhất. Bằng việc dùng thấu kính SD, ống kính này trở nên gọn nhẹ hơn do đã bỏ bớt một số thấu kính thành phần, đồng thời vẫn đảm bảo độ sắc nét. Giá khoảng 600 USD.

7. Pentax DA* 16-50mm f/2.8 ED (IF)
Dùng riêng cho dòng máy D-SLR của Pentax mà gần nhất là K10D, sản phẩm này có tiêu cự 24 - 75 mm (máy phim 35 mm) và độ mở khá ấn tượng f/2.8. Là một ống kính đẳng cấp DA*, giống như thân K10D, nó này có khả năng chống nước và bụi tốt. Giá xấp xỉ 900 USD.

8. Leica Tri-Elmar-M 16-18-21mm f/4 ASPH
Một sản phẩm độc nhất vô nhị dùng cho dòng máy rangefinder của Leica. Điểm đặc biệt là nó cho phép 3 độ dài tiêu cự cố định (không phải zoom) trên một ống. Do là các tiêu cự cố định nên để zoom bạn vẫn phải dùng chân.
Dường như ống kính này được đưa ra phục vụ cho máy ảnh mới Leica M8 digital rangefinder với các mức 21 mm, 24 mm, và 2 8mm. Đắt như tên tuổi của hãng, giá hiện tại cho phụ kiện này khoảng 3.500 USD.

9. Bán chạy nhất: Sigma 50-150mm f/2.8 APO EX DC HSM
Tiêu cự của ống kính khi lắp vào máy D-SLR nhân lên thành 75-225mm, gần giống như các mẫu thông dụng 70 - 200 mm (hoặc 210 mm) khác.
Tuy nhiên, điểm mạnh của nó là độ mở cố định f/2.8 xuyên suốt độ dài tiêu cự, giúp người dùng chụp tốt hơn trong điều kiện thiếu sáng phải mở rộng ống kính.
Ống có 4 thấu kính SLD (Super Low Dispersion), hệ thống lấy nét siêu thanh HSM, zoom và căn nét di chuyển trong lòng nên không bị dài ra khi zoom, tránh được bụi. Giá hiện khoảng 650 USD.

10. Lensbaby 3G cho máy cỡ lớn
Ngoài D-SLR, các máy phim cỡ lớn ngày nay cũng cần những ống kính chuyên biệt hơn. Dòng ống 3G của Lensbaby cho phép bạn tiếp tục đảm bảo được chất lượng cao vốn có của các dòng máy lớn như Mamiya 645 (6 x 4,5 cm) và Pentax 67 (6 x 7 cm).
Ống kính này có 3 vị trí lấy nét giúp bạn có thể tự điều chỉnh điểm nét và điểm mờ ở bất kỳ đâu, rồi chỉ việc bấm nút để khóa vị trí ống kính ở điểm đó lại. Ngoài ra Lensbaby còn có thêm một vòng vi chỉnh điểm nét kể cả khi bạn đã khóa vị trí. Giá hiện khoảng 390 USD.