Học nhiếp ảnh, Hưỡng dẫn sự dụng máy ảnh, đời thường, đường phố: KỸ NĂNG NHIẾP ẢNH

  • Ảnh đẹp mỗi tuần stock 1

    Để có thể chụp được 1 tâm ảnh đẹp nhiếp ảnh ngoài những kinh nghiệp còn phải biết sáng tạo bắt khoảnh khắc...

  • Ảnh đẹp mỗi tuần stock 2

    Để có thể chụp được 1 tâm ảnh đẹp nhiếp ảnh ngoài những kinh nghiệp còn phải biết sáng tạo bắt khoảnh khắc...

  • Ảnh đẹp mỗi tuần stock 3

    Để có thể chụp được 1 tâm ảnh đẹp nhiếp ảnh ngoài những kinh nghiệp còn phải biết sáng tạo bắt khoảnh khắc...

Bố cục nhiếp ảnh cơ bản

Bố cục ảnh khái niệm đơn giản nhưng hiểu kỹ nó không dễ. nắm rõ lý thuyết bố cục ảnh bạn sẽ trở thành nhiếp ảnh giá bán chuyên nghiệp I- KHÁI NIỆM:
Bố cục là sự bố trí, sắp xếp những yếu tố tạo hình trên một cục diện, không gian nhất định nào đó. Những ý thức về bố cục đã được hình thành từ thời tiền sử. Văn minh Hy Lạp cổ đại đi đầu trong việc nguyên tắc hoá bố cục. Trong các thời kỳ phát triển của mỹ thuật, bố cục luôn được coi trọng, đôi khi trở thành kinh điển, giáo điều. Ngày nay, bố cục được nhìn cởi mở hơn, quan niệm về “khuôn vàng thước ngọc” không còn tồn tại một cách cứng nhắc và bố cục bây giờ là sự hài hoà, hợp nhãn, đôi khi còn là sự “phá phách”, phục vụ cho ý tưởng sáng tạo của tác giả.

II- PHÂN LOẠI: 
Sản phẩm của nhiếp ảnh là những hình ảnh thể hiện trên một mặt phẳng (không gian 2 chiều) thông thường được giới hạn bởi 1 hình chữ nhật hoặc hình vuông. Cũng như những môn tạo hình khác, nhiếp ảnh có những qui luật căn bản về tạo hình, chúng ta sẽ tìm hiểu khái quát về những căn bản đó.
Trong nhiếp ảnh, những yếu tố tạo hình gồm những điểm, đường, vùng, mảng (khối), lưu ý là nhiều điểm có thể tạo thành một đường.
Bố cục trong không gian phẳng có thể được phân loại như sau:
A - BỐ CỤC CÂN ĐỐI.



Bố cục cân đối chia không gian ảnh làm hai phần tương đương nhau theo đường thẳng đứng; đường nằm ngang; đường chéo hoặc đường cong. Một bố cục cũng được xem là cân đối khi chủ thể được đặt vào giữa ảnh.
Bố cục cân đối tạo cho ảnh sự nghiêm trang, khẳng định hoặc cố ý tạo sự cân đối. Bố cục này dễ làm ảnh trở nên đơn điệu, cứng nhắc, thiếu sinh động. Đây là loại bố cục khó dùng, có thời gian bị coi là cấm kỵ. Tuy thế, nếu áp dụng đúng tình huống mục đích có thể dễ gây ấn tượng.
Ngưới ta thường dùng bố cục cân đối trong các chủ đề về kiến trúc dinh thự, quãng trường, công trình kiến trúc tôn giáo, tượng đài, ảnh thờ tự, ảnh hồ sơ…


B-BỐ CỤC CHUẨN MỰC.



Đây là hình thức bố cục được sử dụng phổ biến nhất, nó được xem là “tỷ lệ vàng” là chuẩn mực kinh điển, không riêng gì cho nhiếp ảnh mà cả những nghành mỹ thuật khác nữa. Bố cục chuẩn mực tạo nên 1 không gian sắp đặt hài hoa, có chính, có phụ. Nhằm cụ thể và hệ thống hoá phương thứ bố cục này, người ta xác định các dường mạnh, điểm mạnh nhằm tạo các điểm nhấn, điểm dừng của nhãn cảm.

1-ĐƯỜNG MẠNH – ĐIỂM MẠNH.

a- Đường thẳng đứng – đường nằm ngang
Người ta chia mỗi chiều của bức ảnh ( hình chữ nhật hoặc hình vuông - giới hạn không gian của ảnh) ra làm 3 phần bằng nhau, từ đó vẽ những đường song song với các cạnh.
- 2 đường song song với cạnh ngang, gọi là 2 đường mạnh nằm ngang.
- 2 đường thẳng song song với chiều đướng, gọi là 2 đường mạnh thẳng đướng.
- 4 giao điểm của các đường mạnh cho chúng ta 4 điểm được gọi là 4 điểm mạnh.
Dựa trên các đường mạnh chúng ta có thể chia không gian thành nhiều phần hoặc đặt những thành phần cần nhấn mạnh của bối cảnh vào hoặc gần với đường mạnh, điểm mạnh. Những đường mạnh, điểm mạnh cho phép ta tạo những “trọng lương thị giác”, những điểm nhấn của bố cục.




THI DỤ:


b- Đường chéo – đường cong
Khi chụp ảnh, chúng ta không chỉ gặp đường thẳng đứng, đường nằm ngang mà rất nhiều khi, hoặc do bối cảnh có sẵn hoặc do ý tưởng thực hiện chúng ta còn khai thác những đường chéo (đường xiên), đường cong (đường uốn lượn). Vậy thế nào là một đường chéo, đường cong mạnh và các điểm mạnh của những đường ấy?
-Đường mạnh:
Một đường chéo hay một đường cong được xem là mạnh khi:
- Xuất phát từ 1 góc của bức ảnh (hình chữ nhật hoặc hình vuông) đến điểm chia 1/3 của cạnh đối diện.
- Hoặc xuất phát từ điểm 1/3 của cạnh này đến điểm 1/3 của cạnh kia.
Như vậy, chúng ta có nhiều đường chéo hay đường cong mạnh trên một bức ảnh.
-Điểm mạnh:

Điểm mạnh trên đường chéo hay đường cong được hình thành bởi giao điểm của đường cong, đường chéo đó với 2 đường mạnh thẳng đứng hoặn nằm ngang, các đường mạnh này được xác định bởi vùng không gian ưu tiên.
Đường chéo hay đường cong trên bức ảnh chia không gian ảnh ra làm 2 phần (thường là 1 hình tam giác và 1 hình thang trong bố cục chéo). Phần không gian chứa 3 cạnh của bức ảnh là không gian ưu tiên.
Đường mạnh thẳng đứng hoặc nằm ngang được sử dụng là đường song song với 2 cạnh của không gian ưu tiên trên.



1-VÙNG MẠNH – VÙNG TỰA.

Trong thực tế, với những khái niệm về đường và điểm mạnh đôi khi làm người chụp bối rối vì nhiều trương hợp những yếu tố đó khá “trừu tượng”. Để cụ thể hơn chúng ta tìm hiểu thêm khái niệm về vùng ( hoặc hình khối).
Trong một không gian khi các đường, điểm không hiện diện cụ thể hoặc giả khi chụp chủ đề nằm trong một bối cảnh có nhiều mảng khối, chúng ta cần ứng dụng thêm khái niệm về vùng mạnh và vùng tựa.
a-Vùng mạnh:
Một vùng mạnh được hình thành bởi một đường mạnh và 2 điểm mạnh nằm trên đường mạnh đó. Như vậy trên 4 trục của các đường mạnh chúng ta có 4 vùng mạnh tương ứng.

b - Vùng tựa:


Vùng tựa là vùng nằm tại 4 góc của không gian ảnh, trong những trường hợp nếu ứng dụng vùng tựa, bố cục ảnh sẽ vững vàng hơn, vùng tựa còn rất hiệu quả khi dùng để “gói” không gian khi hậu cảnh quá tống trải, dư thừa (bằng tiền cảnh hoặc “đè đậm” các góc ảnh)
THÍ DỤ:

1-THÍ DỤ ỨNG DỤNG.

Dưới đây chúng ta cùng xem một thí dụ ứng dụng và hiệu quả của các đường, điểm, vùng trong bố cục. Thí dụ này dựa trên bối cảnh biển và những con thuyền và khai thác những yếu tố phụ của bối cảnh.


- Hình 1:
Ứng dụng đường mạnh nằm ngang (phía trên) vào đường chân trời (giả dụ bầu trới khi ấy không có gì đặc biệt), một con thuyền được đặt vào một vùng mạnh.
- Hình 2:
Vì hình 1 còn rất đơn điệu nên đặt thêm một con thuyền vào điểm mạnh (B) phía phải bên trên cũng là để có chính (thuyên lớn) có phụ (thuyền nhỏ).
- Hình 3:
Khai thác thêm những yếu tố phụ như những cành cây loã xoã được đặt vào vùng tựa ở góc trên làm tiền cảnh đồng thời để che bớt không gian thừa của bối cảnh.
- Hình 4:
Có thể dựa trên bối cảnh khai thác thêm một vùng tựa ở góc dưới bên phải tạo cho bố cục vững hơn, cân bằng hơn.

- Chúng ta nhận thấy từ hình 1 đến hình 4 bức ảnh từng bước hoàn chỉnh hơn về bố cục.
C - BỐ CỤC HỔN HỢP


Trong thực tế, nhiều trường hợp để tạo một bố cục phong phú, uyển chuyển, chúng ta có thể vận dụng cùng lúc 2 hay nhiều phương thức bố cục. Thông thường, bố cục cân đối và bố cục chuẩn mực được vận dụng song hành với nhau. Hình thức bố cục này rất linh động và ứng dụng ngày càng phổ biến.


D-BỐ CỤC TRONG ẢNH CHÂN DUNG



Với ảnh chân dung, khuôn mặt người là chủ thể của bức ảnh. Do vậy, nếu chụp chân dung cả người hoặc 2/3 người, ta nên đặt khuôn mặt(đầu) vào điểm mạnhhay đường mạnh phía bên trên.Với chân dung nửa người, ta nên đặt 1 hay 2 con mắt của người mẫu nằm trên đường mạnh phía bên trên, tốt hơn hết là đặt 1 con mắt của người mẫu vào đúng điểm mạnh.
Cần lưu ý đến hướng nhìn của người mẫu: Hướng nhìn phải có không gian rộng hơn phần còn lại.
THÍ DỤ:

E-BỐ CỤC PHÁ CÁCH

Một khi bức ảnh có bố cục không theo một phương thức nào cụ thể hoặc dĩ còn phá bỏ các qui phạm, tạo được “cú sốc”, ấn tượng đặc biệt trong tạo hình, chúng ta có thể xem đó là một bố cục phá cách. Vì vậy, bố cục phá cách thường rất khó và ít khi xuất hiện, muốn thực hiện một bức ảnh có bố cục phá cách, người cầm máy thường phải có bản lĩnh.
Hơn nữa, bố cục phá cách còn phải chứa đựng môt ngôn ngữ ảnh cũng phải rất đặc biệt thì tác phẩm mới được xem là thành công.


F-CẮT CÚP ẢNH

Cắt cúp ảnh là một công viêc được gọi là “bố cục lần thư 2”. Khi chúng ta chụp 1 bức ảnh nhưng vì lý do nào đó, bố cục ban đầu không tốt, chúng ta sẽ cắt bớt 1 hay nhiều chiều của bức ảnh để có một bố cục như ý.

Chụp ảnh em bé: Giải mã những điều kiêng kị

Mỗi nền văn hóa có những điều kiêng kị được truyền tụng từ thế hệ này sang thế hệ khác như một dạng định lý không cần chứng minh. Phần lớn những điều kiêng kị đều xuất phát từ mục đích tốt nhưng không phải bao giờ cũng có cơ sở khoa học. Hãy xem những “mệnh đề” kiêng kị này trước khi áp dụng chúng như “định lý” nhé:





1. Kiêng chụp ảnh 3 người

Vì sao kiêng?
Số 03 vốn được coi là một số linh thiêng trong dịch lý của người phương Đông. Con số này được cho là điển hình, để diễn giải nhiều nghi thức tín ngưỡng như Tam Thế (chỉ ba vị Phật là Phật quá khứ, Phật hiện tại và Phật vị lai), Tam Bảo (Phật – Pháp – Tăng) để chỉ ba giới trong Phật Đạo, cỗ tam sinh (trâu – lợn – dê), hay tục thờ Táo quân (2 ông 1 bà), vững như kiềng 3 chân… Chính vì con số 3 là một con số thiêng liêng được cho là sự kết hợp của các đấng tiên tử, người bình thường phải tránh không được sử dụng để tránh mạo phạm đến thần linh.
Cũng có một lý giải khác bắt nguồn từ một câu nói của Khổng Tử:
“Tam nhân đồng hành tất tổn nhất nhân
Nhất nhân du hành tất đắc kỳ hữu”
Tạm dịch:
“Ba người cùng đi ắt mất một
Một người đi lẻ ắt gặp bạn hữu”
 Vì sao không? ^_^
Từ thời phong kiến, văn hóa thứ bậc đã ảnh hưởng sâu sắc trong tư duy của người phương Đông. Những tư tưởng như đấng thiên tử (con trời) thể hiện sự tôn sùng, thần bái dành cho người có cấp bậc hoặc địa vị xã hội cao. Ngược lại những người có địa vị cao hơn làm những việc đại sự để chăm lo cho đời sống của những người có địa vị thấp hơn. Những người dưới (cả về tuổi tác, vai vế đến địa vị) phải tôn trọng những người cao hơn và thể hiện điều đó qua cách tránh đặt tên trùng với những người có địa vị cao gọi là không phạm húy. Do vậy mà mới có cách kiêng số 3 – không dùng số thiêng liêng của thần linh.
Sự diễn giải câu nói của Khổng Tử đã biến dị do truyền miệng nên có phần thiếu cơ sở, suy diễn. Trước đây được áp dụng thành kiêng vẽ tranh 3 người vì tạo nên sự xung đột. Ngày nay, khi máy ảnh xuất hiện, việc kiêng kị này cũng được áp dụng luôn trong cả ảnh chụp.
Trên thực tế, nhiều gia đình có 3 thành viên đều chụp ảnh gia đình và điều đó trở nên bình thường. Sau khi chụp ảnh, gia đình cũng không gặp chuyện chẳng lành như lời đồn đại, bài kiêng kị vẫn hay đề cập.

2. Kiêng chụp ảnh bầu

Vì sao kiêng? 
Vì e ngại “Nói trước, bước không qua” nên gia đình tránh việc công bố rộng rãi chuyện bầu bì ra ngoài. Chụp ảnh bầu chính là hình thức công khai với tất cả mọi người. Từ tâm lý e dè đó mà có chuyện kiêng chụp hình bầu của thai phụ.
Bên cạnh đó, khi mang bầu là cơ thể người phụ nữ có những đặc điểm hình thể như tăng cân nhanh, chân tay phù nề, dáng đi khệ nệ, da mặt nổi mụn, da vùng nhân trung sẫm màu (trông như có râu)… tạo nên quan niệm “bầu bì, xấu xí”. Sao lại chụp ảnh người phụ nữ lúc xấu nhất làm gì??? Quan niệm này góp phần vào chuyện kiêng chụp ảnh bầu.
Vì sao không? ^_^

Mẹ & Nemo (7 tháng)
Mẹ & Nemo (7 tháng)

Phụ nữ trở nên nhạy cảm hơn trong thời gian mang thai. Vì thế, để giữ gìn cho tâm lý người mẹ tương lai không bị căng thẳng hoặc bất an nếu nhỡ có chuyện không mong muốn xảy ra, họ không bị những lời chúc tụng sớm của bạn bè, người thân, đồng nghiệp… làm ảnh hưởng tinh thần. Nhưng không có nghĩa là giấu nhẹm đi trong suốt 09 tháng ròng.
Trong vòng 05 tháng đầu tiên, sự phát triển của thai nhi cần kiểm tra định kì để theo dõi. Và trong khoảng thời gian nhạy cảm này, các kết quả xét nghiệm có thể báo hiệu những vấn đề, nguy cơ tiềm ẩn khó đoán trước. Tuy nhiên sau thời gian này, thai kì ổn định và phát triển bình thường, gia đình có thể an tâm và sẵn sàng để công bố tin vui cho bạn bè, người thân. Khi đó, chụp ảnh bầu là một cách báo tin vui vừa nhẹ nhàng, vừa hiện đại.
Nhiếp ảnh sẽ khai thác người phụ nữ ở những khía cạnh đẹp của cô ấy và nhấn mạnh những yếu tố đặc biệt, ý nghĩa để người mẹ trẻ thêm yêu quý bản thân và hài lòng với cơ thể của mình.

3. Kiêng chụp ảnh trẻ em lúc ngủ

Vì sao kiêng?
Trẻ em lúc ngủ mắt nhắm nghiền, cơ thể bất động giống người chết nhắm mắt, xuôi tay. Vì thế, chụp ảnh trẻ em khi đang ngủ là điềm xui xẻo cần kiêng tuyệt đối.
Vì sao không? ^_^ 


Trung Nhím – 16 ngày tuổi

Điều kiêng kị này bắt nguồn từ việc chụp ảnh chủ thể bị nhắm mắt. Trước đây, khi chụp bằng máy phim, người chụp không xem trước được các kiểu ảnh mình đã chụp. Do đó, khi rửa ảnh, có những tấm ảnh chụp đông người, có chủ thể chớp mắt. Nhưng hình ảnh bất động kết hợp với đôi mắt nhắm nghiền khiến chủ thể đó bị coi giống người chết. Rơi vào tình huống đó là điềm xui xẻo. Quan điểm này phát triển và mở rộng phạm vi áp dụng lên trẻ em lúc ngủ. Nhưng ngày nay, chụp ảnh trẻ em nhắm mắt đang ngủ với nhiều tư thế thú vị trở thành một đề tài nhiếp ảnh được khai thác rộng rãi ở nhiều nước phát triển như Mỹ, Anh, Úc. Các em nhỏ lên hình từ khi chỉ vài ngày tuổi với những tư thế an toàn tạo thành một ngành dịch vụ hết sức phát triển. Chỉ cần gõ từ khóa “Newborn Photography”, các bạn sẽ nhìn thấy những hình ảnh tuyệt đẹp của các em bé trong lúc ngủ.

4. Kiêng chụp ảnh trẻ sơ sinh

Vì sao kiêng?
Chụp ảnh là lấy đi một phần hồn phách của con người vì hình ảnh của em bé trong bức ảnh chính là phần hồn phách của em bé bị chia tách ra từ chủ thể. Ánh đèn chớp sáng làm hại mắt của em bé do da mắt bé rất mỏng nên không chịu được cường độ ánh sáng mạnh của đèn chớp chụp ảnh.
Vì sao không?  ^_^ 

Lạc Lạc - 10 ngày tuổiLạc Lạc (10 ngày tuổi)

Chụp ảnh của em bé không lấy đi phần hồn phách nào cả. Đơn giản là khi khoa học kĩ thuật kém phát triển, việc có một hình ảnh giống y hệt người thật trên một tấm giấy là điều không lý giải được. Để chụp và rửa một tấm hình như vậy không đơn giản, dễ dàng và phổ biến như bây giờ. Chính vì không hiểu, tâm lý sợ hãi đã sinh ra quan niệm cho rằng đó là trò tà ma, quỷ quyệt.
Thời kì đầu tiên, máy ảnh không như máy kĩ thuật số hay được tích hợp trong điện thoại di động hoặc máy tính bảng như bây giờ. Khi ấy, người chụp trùm đầu dưới một tấm vải đen, mắt ngắm qua ống kính của máy ảnh, một tay cầm nút bấm tách rời, tay còn lại giơ một đèn chớp sáng. Khi bấm máy ảnh, đèn chớp sáng và phát ra một tiếng bụp lớn, ánh sáng lóe lên với cường độ mạnh. Dù là người lớn cũng bị lóa mắt bởi ánh sáng này. Nhưng ngày nay, máy ảnh hiện đại có nhiều chức năng khắc phục được yếu tố này như bộ phận điều khiển đèn chớp từ xa nên đèn không nháy trực tiếp vào mắt người được chụp. Thêm vào đó, chế độ điều chỉnh nhạy sáng ISO để chụp dễ hơn trong điều kiện thiếu sáng. Ngoài ra còn các thiết bị tản sáng, hắt sáng để làm ánh sáng dịu hơn, mềm hơn. Tất cả đã góp phần đưa ngành dịch vụ chụp ảnh trẻ em trở nên phổ biến và phát triển trên khắp thế giới. Riêng Việt Nam hiện nay cũng có không dưới 60 phòng chụp nhận chụp hình cho trẻ em.
 

 
Tác giả biết rằng kiêng kị cũng là một trong nhiều phương cách được truyền tụng nhằm đảm bảo sức khỏe và bảo vệ cho các em bé thân yêu. Nhưng với sự hỗ trợ của khoa học kĩ thuật hiện đại, không phải bài kiêng kị nào cũng có tác dụng thực tế và hiệu nghiệm. Là những người mẹ hiện đại, Tác giả mong rằng các mẹ sẽ tìm các cơ sở khoa học để phân định đúng sai trước khi áp dụng, đảm bảo các tình yêu tí hin của chúng ta luôn khỏe mạnh, xinh đẹp.

Phương pháp chụp ảnh dưới ánh sáng mặt trời trực tiếp

11 lời khuyên nhanh chóng và đơn giản tránh những vấn đề mà ánh sáng mặt trời có thể gây ra







Phương pháp chụp ảnh dưới ánh sáng mặt trời trực tiếp
 
Chụp ảnh dưới ánh sáng mặt trời trực tiếp có thể dẫn đến bức ảnh có độ tương phản cao, thổi bay những điểm nổi bật, ống kính lóe sáng và màu sắc có thể trông nhợt nhạt, cháy sáng. Nếu bạn chụp chân dung, người mẫu có thể sẽ “nheo mắt”, nhăn mặt.

Vì vậy, một nhiếp ảnh gia nên làm gì để tránh làm hỏng bức ảnh?
Dưới đây là 11 lời khuyên nhanh chóng và đơn giản tránh những vấn đề mà ánh sáng mặt trời có thể gây ra khi chụp ảnh ngoài trời:

1. Di chuyển vào bóng râm

Với một số đối tượng, bạn có thể di chuyển họ (và chính bạn) vào bóng râm. Ðiều này đặc biệt liên quan đến chụp chân dung khi mà đối tượng có khả năng di chuyển cao. Ðôi khi giải pháp đơn giản nhất lại tốt nhất.

2. Tự tạo ra bóng râm

Nếu đối tượng không di chuyển được (ví dụ nếu bạn chụp macro một bông hoa) hãy tự tạo ra bóng râm. Sử dụng bóng của bạn, bóng của người khác hoặc mang theo dụng cụ nào đó (như một chiếc ô, gương phản xạ hoặc tấm giấy lớn) để cản ánh nắng mặt trời.

3. Sử dụng đèn Flash


Hầu hết chúng ta được hướng dẫn đưa mặt trời về phía đằng sau khi chụp ảnh để đối tượng được chiếu sáng tốt. Chụp ảnh dưới mặt trời có thể dẫn đến ống kính bị lóe sáng hoặc đối tượng bị tối - nhưng làm theo hướng dẫn này có thể cải thiện đáng kể - đặc biệt nếu bạn sử dụng đèn flash để dẫn ánh sáng vào bóng tối được tạo ra bằng cách làm như vậy.

4. Sử dụng tấm phản quang ( hắt sáng)



Một cách khác để đưa ánh sáng vào bóng tối gây ra bởi ánh sáng mặt trời trực tiếp là sử dụng tấm hắt sáng. Ánh sáng bật sẽ chiếu rọi vào khuôn mặt đối tượng - như khi bạn sử dụng đèn flash. Tuy nhiên bạn cần phải điều khiển tấm hắc sáng sao cho đừng quá sáng hoặc không có nguồn sáng.

5. Thay đổi điểm nhìn
Ðôi khi việc di chuyển đối tượng không thể thực hiện được, nhưng nếu bạn di chuyển xung quanh đối tượng có thể đem lại một tác động khác. Bạn có thể di chuyển sang phía bên, chụp trực tiếp từ trên xuống hoặc thậm chí cúi thấp. Làm như vậy sẽ thay đổi góc độ mà ánh sáng mặt trời chiếu vào đối tượng và máy ảnh, tạo nên bức ảnh với cảm giác hoàn toàn khác nhau.

6. Sử dụng nắp loa che ống kính (lens-hood)

Ống kính bị lóe sáng? Nếu ống kính của bạn có loa che ống kính, hãy sử dụng nó. Nếu không có – cũng không khó khăn để tự làm nắp che từ tấm thẻ, hoặc thậm chí sử dụng tay của bạn để che ống kính khỏi ánh nắng mặt trời. Chỉ cần chắc chắn rằng bàn tay của bạn hoặc nắp che bằng hình thức nào để không dính vào bức ảnh.

7. Bộ lọc ( Filter)
Ðôi khi bộ lọc có thể tiện lợi khi chụp dưới ánh sáng mặt trời. Mỗi loại filer đều có chức năng của nó để phù hợp từng loại ánh sáng và môi trường chụp .

8. Cài đặt cân bằng trắng (white balance).
Nhiều máy ảnh kỹ thuật số có khả năng lựa chọn cài đặt cân bằng trắng khác nhau. Mặc dù bạn có thể chỉnh sửa bức ảnh trong quá trình hậu xử lý (đặc biệt khi chụp ở định dạng RAW), lựa chọn thiết lập chính xác ngay tại thời điểm chụp sẽ có giá trị thử nghiệm đáng giá. Cá nhân tôi thích chụp ở RAW và sau đó chỉnh sửa trên máy tính - nhưng những người bạn của tôi lại thích thực hiện ngay trên máy ảnh.

9. Ðo sáng (Metering)
Việc đo sáng chính xác dưới ánh sáng mặt trời trực tiếp rất phức tạp. Trong điều kiện này, tôi thường chọn chế độ đo điểm trên máy ảnh DSLR và chọn đối tượng chính của khung cảnh (tiêu điểm) để đo sáng. Hoặc chọn một khu vực có tông màu trung bình nếu bạn muốn tất cả mọi chi tiết được phơi sáng tương đối tốt. Kiểm tra bức ảnh ngay lập tức để xem xét điều chỉnh lại kỹ thuật (Hãy tận dụng biểu đồ tần số thật tiện dụng trong trường hợp này). Nếu bạn có thời gian, chụp nhiều bức ảnh đo sáng các khu vực khác nhau của khung cảnh để bạn có thể lựa chọn bức ảnh tốt nhất đó là cách tự mình trãi nghiệm)

10. Lựa chọn thời gian trong ngày để chụp ảnh
Nhiều người không có nhiều thời gian để ngồi cả ngày dài chờ đợi cho đến khi ánh sáng hoàn hảo - nhưng nếu bạn có thể, thời gian trong ngày có thể ảnh hưởng đáng kể đến bức ảnh của bạn. Bình minh và hoàng hôn là khoảng thời gian đặc biệt tốt để chụp ảnh vì hướng và màu sắc ánh sáng thích hợp hơn ánh sáng trực tiếp vào buổi trưa.

11. Chụp ảnh bóng đen
“Nếu bạn không tránh được thì hãy tận dụng nó” là câu nói có thể được ứng dụng trong trường hợp này. Nếu ánh sáng mặt trời làm bạn đau đầu - tại sao không sử dụng nó như lợi thế và chụp bóng của đối tượng đối lập trên phông nền sáng.

Chúc các bạn có những bức ảnh thú vị với ánh sáng trời cho nhé !

Thiền trong nhiếp ảnh

- Sự khác biệt giữa một người sở hữu một máy ảnh và nhiếp ảnh gia là ở mục đích. - Hầu hết các nhiếp ảnh gia, đặc biệt là trong thế giới của nhiếp ảnh kỹ thuật số, cảm thấy rằng công nghệ hiện đại đã vô tình làm người ta bỏ những điều cần thiết cơ bản phải học để có thể chụp hình. Sự thật là với những tiến bộ trong công nghệ, nhiếp ảnh gia cần phải tận dụng và tăng lượng kiến thức cần biết để làm ra những hình ảnh họ muốn. - Các nhiếp ảnh gia cần phát triển về nhận thức của họ. - Họ cần cảm nhận được kết nối với thế giới và thấy những hình ảnh đến xung quanh họ thay vì thụ động hy vọng chờ một cơ hội chúng xuất hiện trên con đường họ đi qua. - Thiền hiện hữu trong nhiếp ảnh, nó làm cho bạn tăng nhận thức với thế giới xung quanh và làm cho bạn thành một phần của nó để có một bức ảnh tốt hơn. - Việc thực hành Thiền trong nhiếp ảnh chỉ đến khi các nhiếp ảnh gia dừng được những ham muốn ở phía trước mình, mở mang nhận thức và kỹ năng để tạo ra hình ảnh cần có.
Thiền trong nhiếp ảnh được hiểu là một cách kết hợp giữa ý niệm (tinh thần) và phương pháp tiếp cận tổng thể để tạo ra hình ảnh dựa trên ánh sáng.

Cũng không hẳn nhất thiết phải là một Phật tử mới có thể hiểu về thiền (ZEN) hoặc cách mà Thiền được áp dụng vào trong nhiếp ảnh. Lý thuyết và thực hành thật ra cũng đơn giản như việc nắm bàn tay. Tất cả những gì cần thiết để có thể tiếp cận là phát triển tính kiên nhẫn, nhận thức, kỹ năng và một tâm hồn rộng mở.

1. Nhiếp ảnh.


Nhiếp ảnh được xem như một ngành khoa học dễ hiểu, Ở cả hai thời đại của film và kỹ thuật số, ánh sáng được thu nhận và ghi lại bằng những vật liệu nhạy sáng và sau đó được chuyển sang dạng có thể trình diễn được, thường bằng ảnh in hoặc thông qua màn hình máy tính. Khả năng thu nhận ánh sáng của máy ảnh được xác định bởi 2 quá trình cơ học bao gồm cơ chế điều tiết lượng ánh sáng cho phép đi vào bên trong máy ảnh (hay còn gọi là điều khiển khẩu độ - aperture) và thời gian phơi sáng tương ứng (hay còn gọi là tốc độ màn trập – shutter speed)

Thường ống kính cuả máy ảnh nắm bắt và điều khiển ánh sáng để tạo ra hiệu ứng mong muốn. Ống kính dài (tele) có chức năng đem vật thể lại gần hơn (như ống nhòm- telescope). Và chúng cũng thường mang các vật thể lại gần với nhau hơn trong khung hình. Trong khi đó ống kính góc rộng (Wide) thường cho phép chụp được nhiều vật thể hơn và gây hiện tượng méo hình không gian tương tác giữa các vật thể.

Cũng như một hoạ sĩ với nhiều loại cọ vẽ khác nhau, người nhiếp ảnh gia có thể chọn cho mình những ống kính tương ứng. Người hoạ sĩ có thể tạo ra những bức tranh đầy màu sắc chỉ với 1 cây cọ nhưng sự đa dạng của thiết bị (công cụ) có thể cho anh ta nhiều kỹ năng để hoàn thành tác phẩm hơn.

2. Thiền.


Một trong những quan niệm chính của đạo Phật là tất cả vũ trụ chỉ là một. Một cái cây không chỉ là một cái cây, mà nó có thể là hạt mầm, là chiếc ghế, là củi, là tro, là dưỡng chất cho đất và cho cả các cây khác. Một hạt mầm cần có ánh sáng, nước và đất để phát triển thành cây. Cây phải dựa vào những con chim ăn những trái cây của nó để tạo ra những cây con khác.

Tương tự như vậy, chúng ta không chỉ liên kết với mọi vật trong vũ trụ, mà ở khía cạnh nào đó chúng ta đại diện cho toàn bộ hệ sinh thái. Chúng ta không tồn tại trong thế giới mà chúng ta tương tác với một phần của chúng. Không có vật thể gì trên hành tinh có thể tồn tại độc lập, riêng biệt, tất cả điều như ví dụ cái cây mà chúng ta vừa đề cập ở trên. Tất cả chúng ta có được chỉ là sự nhận thức qua những cung bậc của cảm xúc, sự luân chuyển của vũ trụ từ một khía cạnh cụ thể.

Phải nhận thức được rằng chúng ta không thực sự là một thực thể biệt lập (cái mà Thiền của Phật giáo gọi là vôt tư hay vô ngã) do đó chúng ta tự giải thoát cho chính mình khỏi những vật cản và chủ động tương tác trong bối cảnh chung của vũ trụ.

(cái này dich hơi đuối:
By recognizing that we are not really a separate entity (what Zen Buddhists call “no self” or anatta) we free ourselves from being reactionary creatures to our experiences and proactive processes within a cosmic context.
Lưu ý: Cái này bản gốc cũng xác nhận..rằng đây chỉ là một lời giải thích “thô sơ” (rudimentary) một khái niệm khá phức tạp trong Phật giáo cần có ứng dụng cụ thể để so sánh..và do đó việc D300 em dịch khúc này hơi duối cũng vì chưa thấm hết.)

Khi một người nhiếp ảnh gia ngừng ý thức của mình lại trong tích tắc, như quá trình chụp ảnh, anh ta có thể trở thành 1 phần sáng tạo trong bức ảnh của mình thông qua sự hoàn thiện kỹ năng nhiếp ảnh.

Trong một khái niệm cụ thể hơn, việc ứng dụng Thiền trong nhiếp ảnh đến khi nhiếp ảnh gia dừng tập trung ham muốn bắt lấy ngay hình ảnh ở phía trước mắt mình, chậm lại để cho quá trình nhận thức và kỹ năng dần dần phát triển đến lúc anh ta có thể nắm bắt được khung hình chuẩn vốn dĩ nó thuộc về nơi ấy.

3. Kỹ năng.


Việc phát triển kỹ năng không quá phức tạp. Nó liên quan đến việc nghiên cứu những kỹ xảo, kỹ thuật trong nhiếp ảnh. Nó đòi hỏi không chỉ hàng giờ sau chiếc máy ảnh, mà còn trong lúc xử lý ảnh,lưu trữ và phân tích về quá trình tạo ra bức ảnh; học cách phát triển kỹ năng sáng tạo thông qua những tấm hình tốt hơn và cách làm chủ nguồn sang, trong tất cả các bài học điều liên quan đến tính chất vật lý của ánh sáng.

Người nghệ sĩ không chỉ học cách tô màu lên mặt vải của mình. Anh ta cũng phải nghiên cứu về sự tương tác hoá học giữa loại màu sơn này với các màu sơn khác. Anh ta cũng biết màu vàng nào có thể hoà chung với màu xanh dương mà không bị chuyển thành màu xanh lá. Anh ta cũng hiểu rằng khi nào mình nên xài màu trắng đục hay trắng trong. Người nghệ sĩ cũng hiểu về tính chất của từng loại mặt vải với loại cọ vẽ tương ứng của mình.

Đa phần các người cầm máy, đặc biệt trong giới nhiếp ảnh, cảm giác rằng khoa học kỹ thuật đã từng bước bỏ qua quá trình tìm hiểu những khái niệm căn bản của nhiếp ảnh. Nhưng thực tế cho thấy, với lợi thế công nghệ kỹ thuật, người chụp hơn lúc nào hết phải trang bị cho mình lượng kiến thức lớn hơn để có thể sáng tạo ra những tấm ảnh mà họ muốn.


4. Tâm thức


Sự khác nhau giữa một người sở hữu chiếc máy ảnh và nhiếp ảnh gia chỉ ở mục đích của họ. Một người nhiếp ảnh gia sẽ tạo ra hình ảnh với chiếc máy ảnh của mình mà tất cả ai cũng muốn.

Kỹ năng sử dụng máy ảnh thành thạo của nhiếp ảnh gia là cơ hội để họ tạo ra những hình ảnh tuyệt vời. Tuy nhiên với nhiều người chụp ảnh thành thạo về kỹ thuật máy ảnh vẫn thất bại với những tấm hình mình đã chụp, bởi vì đơn giản một điều:

“Khi họ có máy ảnh trong tay, họ không biết làm sao để chụp một tấm hình đẹp như mong muốn”

Đây là vấn đề tại sao người nhiếp ảnh gia nên phát triển tâm thức. Họ phải biết rằng họ có sự gắn kết với vũ trụ và thấy hình ảnh đến từ xung quanh mình (chủ động) thay vì chỉ hi vọng (thụ động ) bắt gặp được cơ hội chụp được khoảnh khắc đẹp khi chúng đi ngang qua trên con đường.


Đây là nơi mà thiền trong nhiếp ảnh thể hiện vai trò của mình.

Bước đầu tiên là bạn nên kiếm chỗ nào để ngồi, trong bối cảnh mà bạn định chụp, tuy nhiên không phải lúc nào cũng có, nếu không cũng không thành vấn đề.

Thả lỏng suy nghĩ và thở sâu, Trong lúc này..chỉ cố tập trung vào hơi thở của mình, cảm giác được sự di chuyển của không khí qua mũi, xuống cổ họng và đi vào phổi. Lưu ý đến sự chuyển động của ngực và lưng trong lúc thở.
Nhận thức được sự tập trung vào nhịp thở thực sự là một điều khó làm. Bao nhiêu ý nghĩ nhảy nhót trong đầu bạn, bao nhiêu suy nghĩ của bạn bị chiếm bởi những lo lắng xảy ra trong quá khứ, hoặc những gì có thể xảy ra trong tương lai? Hãy để chúng đi ra khỏi đầu của bạn. Nếu nó cố trở lại hãy làm như chúng ta không biết nó và hãy làm ngơ như những người lạ bạn gặp trên đường, hãy để họ lướt qua trong tầm nhìn. Chỉ thư giãn và tập trung vào hơi thở của mình.

Một vài giây sau, bạn sẽ cảm thấy thực sự bình tâm. Nó giống như thời điểm tàn tiệc khi mọi người khách dần dần ra về, một số ít còn nấn ná ở lại, nhưng hãy học cách bỏ qua nốt những suy nghĩ này.


Những gì bạn làm lien quan mật thiết đến hiện tại (present). Ngay lúc này đây bạn đang sống ở hiện tại. Đó là điều quan trọng bởi vì ý thức của bạn tồn tại chính lúc này, và không có phiền nhiễu. Tiếp tục luyện tập với những nhịp thở của mình, bạn sẽ tìm ra được con đường ngắn nhất, dễ nhất đễ đạt được trạng thái “ý thức hiện tại”.Bạn cũng sẽ phát triển kỹ năng để tăng giác quan về “nhận thức” của bạn.


5. Tìm kiếm nguồn sáng và dàn dựng khung cảnh.


Khi quan sát thế giới xung quanh, bạn nên tập trung vào nguồn sáng. Bắt đầu bằng các nguồn sáng lớn. Nhận thức được ánh sáng đến từ đâu, trực tiếp hay gián tiếp nơi mà ánh sang di chuyển từ nguồn sáng đến vị trí nhận sang. Phải phân biệt được đâu có nguồn sáng trực tiếp - gắt và đâu có nguồn sang gián tiếp- mềm hơn.

Nếu xem máy ảnh như là tấm vải toan, và ống kính là những cây cọ vẽ thì ánh sáng là chất màu. Hãy nghĩ theo cách như vậy. Quan sát cách mà các bóng đổ hoà lẫn với màu sắc trong khung cảnh xung quanh bạn. Thiết lập khung nhìn dựa vào ánh sang của khung cảnh xung quanh mình.

Sở dĩ tôi đề cập đến vấn đề này ở đây vì nhiều nhiếp ảnh gia họ chọn những góc nhìn dựa trên chủ thể chính, như bông hoa, cô dâu, các con thú cưng..và làm cho nó trở thành tâm điểm của bức ảnh. Nhưng thực tế là hình ảnh nên dựa vào khung cảnh mà nó vốn dĩ là của nó. Không gian nào mà vật thể sẽ tương tác, từ đó sẽ thiết lập sắc độ, cảm xúc và độ sâu của hình. Thậm chí cả khi mà nhiếp ảnh gia có rất ít khả năng điều khiển chủ thể, ví dụ như chụp tình cờ (chụp lén), người chụp phải chọn vị trí đứng của mình làm sao để có sự tương quan tốt nhất với chủ thể nhằm tạo được khung cảnh mong muốn.


Hãy xem một ví dụ đơn giản sau:

Tôi được yêu cầu chụp một trận đá bóng thiếu niên, để có được khung cảnh mà tôi dự tính, tôi chọn góc chụp từ phía Nam của sân bóng để tránh sự ảnh hưởng của bãi đậu xe vào khung hình. Trong một tấm hình khác không thể điều khiển góc chụp, tôi yêu cầu cô dâu và chú rể bước đứng ở vị trí phù hợp làm họ nổi bật trước đám đông còn lại và sảnh cưới trở thành hậu cảnh thay vì chỉ chọn chụp ở 1 góc phòng với DJ.

Nên nhớ bắt đầu với xây dựng khung cảnh và chèn chủ thể vào sau cùng.
Sống ở hiện tại, bình tâm và ý thức, bạn có thể nhìn thấy ánh sáng tốt hơn, thấy cả sự ảnh hưởng tương quan giữa các vật thể trong khung cảnh và với nguồn sang. Bạn cũng có thể quyết định khung hình nào bạn sẽ chụp với vật thể đó và làm sao để hiện thực nó. Đây là vấn đề mấu chốt của Thiền trong nhiếp ảnh, phát triển tâm thức và ý thức được sự tồn tại của thế giới xung quanh, làm thế nào để mình là hoá thân vào bức ảnh và chính những điều đó giúp bạn gặt hái được những bức ảnh tốt hơn.

6. Bánh xe thứ 5 


Một trong những điều mà hầu hết các nhiếp ảnh gia thường hay bỏ qua một khi họ có được khung cảnh, chủ thể, và thiết bị nhiếp ảnh cần thiết để chụp 1 tác phẩm hoàn hảo, họ vẫn cần chú ý đến 1 khía cạnh cuối cùng đó là người chụp (người bấm máy).

Người xem thường ít khi thấy tác giả, và do đó người chụp thường nghĩ rằng mình đứng ngoài “khung cảnh” và cho rằng điều đó không mấy quan trọng. Tuy nhiên người nhiếp ảnh gia là bánh xe bí mật thứ 5 của chiếc xe. Mặc dầu anh ta không thực sự xuất hiện trong khung hình nhưng sự hiện diện của anh ta có thể cảm nhận được. Nhiếp ảnh gia có thể làm cho model của mình cảm thấy khó chịu, làm cho em bé khóc và làm bối rối cả cô dâu nếu anh ta ko thực sự chuyên nghiệp.

Bây giờ trở lại với triết lý của nhà Phật, triết lý “vô ngã”. Nhiếp ảnh gia phải coi mình là một phần của khung cảnh. Anh ta được thể hiện trên mọi khía cạnh trong tác phẩm hoàn thiện của mình. Nếu anh ta phân tâm thì chắc chắn tấm ành cũng thể hiện điều đó. Và nếu anh ta bực bội tấm ảnh sẽ mang theo những bực dọc của nhiếp ảnh gia trong nó. …

Nói một cách thực tế, tâm thức của một nhiếp ảnh gia sẽ được đánh thức bởi cách anh ta tương tác với hình ảnh của mình. Một tâm hồn bình thản anh ta sẽ làm bạn được với con chó. Một người nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp tự tin với kỹ năng của mình sẽ khiến người mẫu (models) diễn một cách thoải mái và dễ dàng. Một người nhiếp ảnh gia tràn trề sức sống sẽ tạo nên những bức ảnh chân dung mang phong cách này. Càng phát triển tâm thức của bạn, sự ảnh hưởng của bạn và sợi dây liên lạc giữa bạn và phần còn lại của thế giới, thì hiệu quả của sự ảnh hưởng đó càng rõ nét lên tấm hình theo cách mà bạn muốn.

7. Phần kết.



Thiền trong nhiếp ảnh là một triết lý trong thực tế ứng dụng. Nó không phải điều gì đó quá huyền bí hoặc quá khó để có thể tiếp thu. Tiếc thay, nhiều nhiếp ảnh gia không chấp nhận để ý tới chi tiết hơn để rèn luyện kỹ năng của họ và tận dụng lợi thế này.

Tôi mong đợi sự hồi đáp và giải thích (với những người nhiếp ảnh gia) cho tôi những gì mà các bạn đã áp dụng những điều mà tôi đã nêu ở bài viết trên. Điều đó thật tuyệt. Nếu mà đúng nó thật sự như vậy thì bạn có thể đã chẳng học được gì mới qua bài viết này. Tuy nhiên tôi có nhiều độc giả hỏi tôi làm sao để chụp được những tấm hình đẹp hơn. Nhìn qua những tấm hình họ chụp tôi thấy sự thiếu hụt cơ bản trong việc kết nối giữa các thành phần và không nhận thức được thế giới không gian xung quanh họ để có thể trở thành một người chụp hình chủ động thay vì chỉ là người quan sát một cách bị động.
Đến đây bạn hãy đi ra ngoài và bắt đầu bấm những tấm hình mới.

Hãy ra với thế giới bên ngoài.

Kỹ thuật đồng bộ chậm đèn flash

Kỹ thuật đồng bộ chậm đèn flash đem lại cho ban nhưng bức ảnh đẹp không ngờ

Slow Sync Flash (đồng bộ chậm đèn flash) là kỹ thuật chụp với đèn flash, trong đó màn trập mở ra trong thời gian tương đối lâu, nhằm tạo những hiệu ứng chuyển động đặc biệt cho bức ảnh. Ở đây, ánh sáng nền là yếu tố gây ra độ tương phản cao độ với chủ thể. Bên cạnh đó, các chuyển động nhanh trong khung hình được ghi lại trong suốt thời gian phơi sáng sẽ tạo nên những “đường dẫn” để nhấn mạnh chủ thể.

Cần phân biệt Slow Sync Flash với phương pháp chụp ảnh sử dụng flash đơn thuần, trong đó thời gian đồng bộ giữa flash và màn trập không quá dài (khoảng 1/25 giây hoặc thấp hơn thế). Phương pháp truyền thống này được kích hoạt trong chế độ Auto của máy ảnh khi chụp ở môi trường thiếu sáng. Các chuyển động gần như bị đóng băng tức thì, toàn bộ bức ảnh sẽ ghi lại đối tượng chính và phông nền trong một thời gian ngắn ngủi nên không tái hiện được hiệu ứng “đường dẫn” như kỹ thuật Slow Sync Flash.
Một số máy ảnh (thường là loại DSLR) hỗ trợ việc điều khiển đồng bộ chậm flash thủ công. Bạn hoàn toàn có thể chỉnh thời gian phơi sáng và độ sáng đèn flash cho phù hợp mục đích sử dụng. Nhiều máy compact chỉ cho phép điều chỉnh khá hạn chế trong chế độ chụp đêm (Night mode) hoặc chụp tiệc tùng (Party mode).
Dưới đây là một số chế độ.
1. Đồng bộ trước và sau.


Kỹ thuật Rear Curtain Sync đóng băng chuyển động tại thời điểm cuối của quá trình phơi sáng.
Ảnh: Digital Photography School.
Rear Curtain Sync (đồng bộ sau): Đèn flash bật sáng tại thời điểm cuối của quá trình phơi sáng. Như vậy, ngay sau khi nhấn nút chụp trên thân máy ảnh, màn trập sẽ mở ra trong thời gian khá dài để thu nhận ánh sáng nền và ghi nhận chuyển động. Khi sắp kết thúc quá trình này, đèn flash được kích hoạt nhằm làm lộ rõ đối tượng chính. Thực chất quá trình này là sự kết hợp khéo léo giữa phơi sáng lâu bằng màn trập và phơi sáng ngắn sử dụng flash.

Kỹ thuật Front Curtain Sync ghi lại hình ảnh sắc nét của chủ thể vào thời điểm ban đầu và cả chuyển động của vật thể đó trong thời gian mở cửa trập. Ảnh: Seattlepi.
Front Curtain Sync (đồng bộ trước): Đèn flash bật sáng tại thời điểm đầu của quá trình phơi sáng, tức là ngay khi nhấn nút chụp. Sau đó, màn trập sẽ mở ra trong thời gian dài để thực hiện chức năng tương tự như trong Rear Curtain Sync. Kỹ thuật này có thể sử dụng khi muốn đèn flash đóng băng các chuyển động nhanh của chủ thể ngay từ đầu. Bức ảnh thu được sẽ ghi lại hình ảnh sắc nét của chủ thể và cả chuyển động của vật thể đó trong thời gian mở cửa trập.
2. Chức năng của chân máy

Chân máy cần thiết trong hầu hết các tình huống chụp thiếu sáng. Ảnh: Mrgadget.
Ngay cả khi cầm rất vững máy ảnh trên tay thì những rung lắc rất nhẹ do gió cũng khiến toàn bộ bức ảnh sử dụng kỹ thuật đồng bộ chậm flash bị nhòe. Thời gian phơi sáng ít nhất khoảng 1 đến 2 giây đòi hỏi phải sử dụng chân máy. Đặc biệt, để hạn chế chấn động do nhấn nút chụp, bạn nên đầu tư thêm một bộ điều khiển máy ảnh (không dây hoặc cáp kết nối với máy tính). Nếu không có điều kiện, cách khắc phục thông dụng nhất là đặt máy lên tripod, khởi động chế độ chụp hẹn giờ (khoảng 10 giây) và để máy tự động hoàn thành nốt các bước chụp còn lại.

Có thể dùng tay giữ máy và tạo ra những hiệu ứng rất đặc sắc. Ảnh: Digital Photography School.
Trong một số trường hợp, việc dùng tay giữ máy ảnh lại tạo ra hiệu ứng rất đặc sắc. Chẳng hạn, bạn đang tham dự một bữa tiệc và muốn ghi lại khoảnh khắc của người nhảy cùng. Với trường hợp này, bạn khó có thể sử dụng tripod và bắt buộc phải giữ máy ảnh trên tay. Kỹ thuật đồng bộ chậm flash sẽ cho ra bức ảnh rất tuyệt với hình ảnh của đối tượng hiện rõ nét và phông nền là ánh đèn sân khấu rực rỡ bị nhòe thành vệt.

Kỹ thuật chụp ảnh thác nước

Chụp thác nước không khó nếu biết cách










Lãng mạn, trong xanh và đầy cảm hứng, sau đây là bảy cách để chụp ảnh một thác nước ở góc độ đẹp nhất.

Sử dụng tốc độ màn trập chậm
Tốc độ màn trập chậm sẽ giúp bạn làm mờ nước, làm cho nước trông “mượt mà” hơn để có thể nhìn thấy các chuyển động trong nước. Thông thường, tốc độ màn trập khoảng vài giây rất phù hợp cho trường hợp này. Tốc độ này cần được thay đổi theo tốc độ của dòng nước – nước chảy càng chậm thì tốc độ màn trập càng chậm. Nếu bạn không thể chụp ở tốc độ màn trập chậm thì bạn hãy sử dụng thiết lập ISO thấp nhất và chỉ số f cao.
Sử dụng bộ lọc phân cực
Bộ lọc phân cực chủ yếu giúp bạn giảm hoặc loại bỏ các ảnh phản xạ trên mặt nước và trên các tảng đá ẩm ướt. Ngoài ra, những lỗ mở trên bộ lọc phân cực còn cho phép bạn chụp ảnh ở tốc độ màn trập chậm hơn.
Sử dụng chân máy
Khi chụp với tốc độ màn trập chậm như thế thì bạn cần phải sử dụng chân máy. Nếu không, bạn có thể tạo ra một bức ảnh siêu mờ. Khi sử dụng chân máy, tránh gắn máy ảnh cheo leo trên cột đứng ở giữa đỉnh chân máy vì chân máy sẽ không vững.

Thiết lập hai độ phơi sáng: Một cho nước, một cho những thứ khác
Một lỗi thường gặp trong các ảnh chụp thác nước là sự xuất hiện của những vùng dư sáng. Điều này thường xảy ra ngay cả khi phong cảnh xung quanh bị thiếu ánh sáng. Vì vậy, hãy thử chụp hai bức ảnh với hai độ phơi sáng khác nhau: một cho nước và một cho cảnh xung quanh. Bức ảnh thứ nhất cần chỉnh độ phơi sáng sao cho nước gần như màu trắng, và bức ảnh thứ hai chụp dư sáng. Sau đó, bạn có thể kết hợp hai bức ảnh này trong Photoshop bằng cách sử dụng các layer mask (mặt nạ lớp).

Thay đổi theo mùa
Nguồn nước của thác sẽ giúp bạn xác định lưu lượng của thác nước, vì vậy việc xem xét nguồn gốc của thác nước là điều cực kỳ quan trọng. Nếu thác nước này chỉ yếu được tạo ra bởi tuyết, thì tốt nhất bạn nên chụp vào mùa xuân hoặc mùa hè. Bạn sẽ muốn chụp ảnh thác nước khi lưu lượng của dòng nước thật hoàn hảo cho bố cục mà bạn hình dung ra.

Tác giả của tấm ảnh này đã chọn mùa khô, khi mà lưu lượng của thác là nhỏ nhất
để có được từng “sợi nước” buông dài từ đỉnh thác

Coi chừng gió
Khi chụp ở tốc độ màn trập chậm, bạn nên chú ý đến chuyển động của các vật thể trong khung ảnh – chẳng hạn một nhánh cây đang đong đưa trong gió sẽ tạo thành một vệt mờ trong bức ảnh cuối cùng của bạn. Nếu trời gió to, có thể bạn sẽ cần điều chỉnh độ mở ống kính nhỏ hơn và ISO cao hơn một chút để chụp được phong cảnh xung quanh, còn khi chụp thác ước, hãy chuyển sang chụp với tốc độ màn trập chậm.
Chọn thời điểm rất quan trọng!
Bí quyết để có được bức ảnh thác nước đẹp thật đơn giản – đó là ánh sáng cân bằng. Tất cả mọi thứ trong cảnh chụp của bạn nên được chiếu sáng đồng đều. Vì hầu hết các thác nước đều được những cây cổ thụ to lớn che nên chụp ảnh thác nước vào buổi trưa thường dễ bị bóng và chói, tất cả những điều này sẽ tạo nên một thảm hoạ về độ phơi sáng! Thời điểm tốt nhất để chụp ảnh thác nước là lúc bình mình, hoàng hôn, hoặc vào một ngày u ám khi ánh sáng dịu hơn và khuếch tán nhiều hơn.